01:39 EST Chủ nhật, 21/01/2018

Hệ Thống

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 263

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8977

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 304096

Trang nhất » Kiến thức - Tư liệu » Tài Chính - Ngân Hàng

PHÂN TÍCH RỦI RO CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ (1289)

Thứ hai - 02/07/2012 09:39
DN khi chấp nhận thực hiện một dự án đầu tư phải chấp nhận các rủi ro của dự án đầu tư

3.1 CÁC LOẠI RỦI RO CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
3.2 ĐO LƯỜNG RỦI RO CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
3.3 CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN BÌNH QUÂN (WACC)

-----------------oOo-----------------

3.1 CÁC LOẠI RỦI RO CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
DN khi chấp nhận thực hiện một dự án đầu tư phải chấp nhận các rủi ro của dự án đầu tư bao gồm:
Rủi ro riêng của dự án: là rủi ro của chính dự án mang lại. Rủi ro riêng của dự án đầu tư có thể do nhiều yếu tố như lĩnh vự kinh doanh của dự án, quy mô của dự án, thời gian hoạt động của dự án,…
Rủi ro công ty của dự án: là rủi ro ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận của DN. Khi thực hiện một dự án đầu tư mới, DN sẽ có một danh mục đàu tư lớn hơn và việc chấp nhận thêm một dự án đầu tư mới sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của danh mục đầu tư hiện tại, khi đó lợi nhuân của danh mục đầu tư mới lớn hơn, có thể thấp hơn, và thậm chí là không đổi. Như vậy, sự thay đổi lợi nhuận cảu danh mục đàu tư mới khi thực hiện dự án so với lợi nhuận cảu danh mục đầu tư hiện tại được dùng để đo lường rủi ro công ty của dự án đầu tư
Rủi ro thị trường (rủi ro beta)
Mỗi dự án đầu tư mà doanh nghiệp đang thực hiện sẽ có một hệ sô beta của mình và với tỷ trọng đầu tư của từng dự án sẽ tạo thành một hệ số beta của danh mục đầu tư
Một dự án đầu tư mới cũng sẽ có hệ số beta và khi DN chấp nhận thực hiện dự án thì danh mục đầu tư của DN sẽ có thêm dự án mới với hệ số beta có thể cao hơn, thấp hơn hoặc bằng với hệ số beta của danh mục đàu tư hiện tại
Rủi ro thị trường của một dự án đầu tư có thể được đo lường thông qua sự ảnh hưởng của dự án đến hệ số beta của danh mục đầu tư của DN

3.2 ĐO LƯỜNG RỦI RO CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
3.2.1 Đo lường rủi ro riêng của dự án đầu tư
Để đo lường rủi ro riêng của dự án đầu tư thì DN phải đo lường được sự biến động về giá trị NPV của dự án. Dự án nào mà NPV càng biến động thì rủi ro riêng của dự án đó càng cao và ngược lại.
3.2.1.1 Kỹ thuật phân tích độ nhạy cảm
Kỹ thuật độ nhạy cảm là một kỹ thuật mà lần lượt cho từng biến số thay đổi trong khi các biến số khác không thay đổi để thấy được sự ảnh hưởng của từng biến sô đến giá trị cần phân tích.
Với kỹ thuật phân tích độ nhạy cảm bằng cách cho từng biến sô thay đổi trong khi các biến số còn lại không thay đổi sẽ thấy mức độ nhạy cảm của dự án với từng biến số, qua đó cho thấy được biến số nào nhạy cảm với dự án nhiều nhất bởi các yếu tố hay yếu tố nào ảnh hưởng thấp nhất đến dự án.
Phân tích nhạy cảm là một phương pháp trất hữu ích để nhận diện các biến số mà những thay đổi của chúng có thể gây tác động lớn đến lãi ròng của một dự án. Nó cho phép nhà quản lý đưa ra quyết định tính toán được hiệu quả của sự ước tính sai lầm và ảnh hưởng của những quyết định đó đối với lãi ròng của dự án. Tuy nhiên phương pháp này còn một số hạn chế nhất định:
Thứ nhất, các giá trị của biến số được đưa ra những phán đoán mang tính chủ quan rất cao.
Thứ hai, sự phân tích khảo sát độ nhạy của NPV với nhiều biến số khác nhau, mỗi biến số tại một thời điểm nhưng lại bỏ qua mối quan hệ bên trong giữa các biến số khi chúng cùng tác động đến dự án. Vì vậy khi cần phân tích cần phải điều chỉnh tùy theo những dự báo bi quan và lạc quan chỉ rõ viễn cảnh mà trong đó mức kết hợp của tất cả các biến số liên quan đến dự báo.
Thứ ba, những kết quả phân tích độ nhạy cảm không đem lại cho người ra quyết định một giải pháp rõ ràng đối với việc lựa chọn dự án hay không, đặc biệt là trong trường hợp khi có nhiều dự án loại trừ nhau được so sánh và người ra quyết định phải lựa chọn dự án tốt nhất để đầu tư.
3.2.1.2 Kỹ thuật phân tích viễn cảnh dự án
Phân tích viễn cảnh là một phương pháp phân tích rủi ro vừa xem xét độ nhạy cảm của NPV đối với sự thay đổi của các biến số chủ yếu vừa xét khoảng giá trị chắc chắn của các biến số được phản ánh trong phân phối xác suất cảu chúng. Trong phân tích viễn cảnh một loạt các biến số xấu xảy ra như sản lượng tiêu thụ và giá bán giảm, chi phí tăng… và một loạt các biến số tốt xảy ra, sau đó tính NPV của các trường hợp xấu và tốt và so sánh với NPV kỳ vọng chính là mức NPV cơ bản.
Để tiến hành phân tích viễn cảnh, chúng ta sử dụng các giá trị biến sô trong trường hợp để có được NPV trường hợp xấu và trường hợp tốt. Sau đó sử dụng kết qyar của phân tích viễn cảnh để xác định NPV mong đợi, độ lệch chuẩn của NPV và hệ số biến thiên, như vậy cần phải ước lượng xác suất xảy ra ba viễn cảnh là trường hợp cơ bản hay kỳ vọng xấu và tốt.
Phân tích viễn cảnh cung cấp thông tin hữu ích về rủi ro riêng của một dự án, tuy nhiên nó bị giới hạn là chỉ xem xét một số kết quả NPV rời rạc mặ dù sẽ có rất nhiều trường hợp xảy ra.
3.2.2 Đo lường rủi ro beta của dự án.
Để đo lường rủi ro beta của một dự án đầu tư, chúng ta có thể sử dụng phương pháp vận dụng thuần túy.
Ví dụ một công ty in thực hiện một dự án xây dựng một khu cao ốc văn phòng cho thuê thì khi đó công ty không thể lấy hệ số beta của công ty làm hệ số beta của dự án trên bởi vì những dự án mà một công ty in thực hiện sẽ có những rủi ro hoàn toàn khác trong trường hợp đó là một dự án xây dựng cao ốc văn phòng cho thuê.
Để có thể đo lường rủi ro của dự án trên thì công ty in sẽ phải tìm một DN hoạt động chỉ hoạt động chỉ hoạt động trong lĩnh vực cho thuê bất động sản, gọi là DN mẫu, sau đó sử dụng hệ số beta của DN mẫu sau khi đã điều chỉnh theo đòn cân nợ của dự án và công ty mẫu làm hệ số beta cho dự án đang cần phân tích
Công thức để tính hệ số beta để điều chỉnh theo đòn cân nợ của DN mẫu

 


βL: Hệ số beta của vốn cổ phần của DN hoặc dự án để điều chỉnh theo đòn cân nợ.
βu: Hệ số beta của vốn cổ phần của DN hoặc dự án khi không sử dụng nợ vay.

Sau khi tìm được một DN mẫu với những thông số cần thiết như hệ số beta, thuế thu nhập DN, cơ cấu tài trợ,… sẽ tính được hệ số beta của DN khi DN không sử dụng nợ vay.
Sau đó với hệ số beta của vốn cổ phần của dự án nếu dự án không sử dụng nợ và nếu dự án có được tài trợ từ nợ vay sẽ tính được hệ số beta của vốn cổ phần của dự án tương ứng với mức nợ vay được tài trợ cho dự án.
Điều chỉnh theo rủi ro của dự án đầu tư
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần của dự án
Mỗi dự án đầu tư sẽ có rủi ro khác nhau vì vậy trong các tính toán để thẩm định tính khả thi của dự án đầu tư về mặt tài chính cần phải phản ảnh và điều chỉnh theo rủi ro của từng dự án đầu tư.
Theo mô hình CAPM thì một dự án đầu tư mới được coi là phần thêm vào danh mục đầu tư của cổ đông và tỷ lệ sinh lời cần thiết trên vốn cổ phần được xác định như sau:

R dự án: tỷ lệ chiết khấu/tỷ lệ sinh lời đã điều chỉnh theo rủi ro trên phần vốn cổ phần của dự án
β dự án: hệ số beta của vốn cổ phần thuộc dự án

3.3 CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN BÌNH QUÂN (WACC)
Như đã biết thì trong những tính toán các chỉ tiêu như NPV, PP có chiết khấu hay PI thì tỷ lệ chiết khấu hợp lý của dự án phải là chi phí sử dụng vốn bình quân của dự án. Vì vậy sau khi đã đo lường được rủi ro của dự án đầu tư phải tiến hành điều chỉnh theo rủi rỏ của dự án đó, dự án nào có rủi ro càng cao thì tỷ suất chiết khấu hợp lý phải càng lớn và ngược lại. Khi đó chi phí sử dụng vốn bình quân của dự án đã điều chỉnh theo rủi ro của dự án sẽ được tính với công thức để chi phí sử dụng vốn bình quân của dự án nhưng với chi phí sử dụng vốn cổ phần của dự án phải được điều chỉnh theo rủi ro của dự án đã tính được mô hình CAPM.

 


Tính NPV của dự án theo WACC đã điều chỉnh theo rủi ro của dự án




Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn