01:43 EST Chủ nhật, 21/01/2018

Hệ Thống

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 278

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8992

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 304111

Trang nhất » Kiến thức - Tư liệu » Kế Toán

KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ CÔNG CỤ DỤNG CỤ (888)

Chủ nhật - 01/07/2012 08:02
(Hinh Minh Họa)

(Hinh Minh Họa)

* Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Công cụ dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ các tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối với TSCĐ.
     
         I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
        II. PHÂN LOẠI
        III. KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
                                       IV. KẾ TOÁN CÔNG CỤ DỤNG CỤ
------------------------o0o------------------------

 

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
* Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
* Công cụ dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ các tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối với TSCĐ.

II. PHÂN LOẠI

1.    Căn cứ vào tính năng sử dụng
Căn cứ vào tính năng sử dụng chúng ta có thể chia nguyên, vật liệu ra thành các nhóm sau:
* Nguyên liệu, vật liệu chính: Là những nguyên liệu, vật liệu cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm. Nguyên liệu vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp sản xuất cụ thể. Trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, không đặt ra khái niệm nguyên, vật liệu chính, phụ. Nguyên vật liệu chính cũng bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất để chế tạo ra sản phẩm hàng hóa;
* Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia và quá trình sản xuất không cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm mà có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài, làm tăng thêm chất lượng hoặc giá trị sử dụng của sản phẩm.
* Nhiên liệu: Là một loại vật liệu phụ tùng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, như xăng, dầu; ở thể rắn như các loại than đá, than bùn; và ở thể khí như gas, …
* Phụ tùng thay thế: Là những vật tư sản phẩm dùng để thay thế, sửa chửa máy móc thiết bị, tài sản cố định, phương tiện vận tải,…
* Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản
* Phế liệu: Là những phần vật chất mà doanh nghiệp có thể thu hồi được (bên cạnh các loại thành phẩm) trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
2.    Căn cứ vào nguồn cung cấp:
Ta có thể chia thành các nhóm khác nhau như sau:
* Nguyên, vật liệu mua ngoài: Nguyên, vật liệu do doanh nghiệp mua ngoài mà có, thông thường mua của các nhà cung cấp.
* Vật liệu tự chế biến:  Là vật liệu do doanh nghiệp sản xuất ra và sử dụng như nguyên liệu để sản xuất sản phẩm.
* Vật liệu thuê ngoài gia công: Là vật liệu mà doanh nghiệp không tự sản xuất, cũng không phải mua ngoài mà thuê các cơ sở gia công.
* Nguyên, vật liệu nhận góp vốn liên doanh: Là nguyên vật liệu do các bên liên doanh góp vốn theo thỏa thuận trên hợp đồng liên doanh.
* Nguyên, vật liệu được cấp: Là nguyên vật liệu do đơn vị cấp trên cấp theo quy định,…
Ngoài ra còn có thể căn cứ theo tính năng hoạt động phân loại chi tiết hơn nửa nguyên vật liệu thành các loại khác nhau, làm cơ sở để doanh nghiệp thiết lập sổ danh điểm nguyên, vật liêu.
III. KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
Nguyên, vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Gồm có:
-    Nguyên liệu, vật liệu chính;
-    Vật liệu phụ;
-    Nhiên liệu;
-    Phụ tùng thay thế;
-    Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản.
Tài khoản 152: dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của các loại nguyên liệu, vật liệu trong kho của doanh nghiệp.
Bên nợ: Giá trị nguyên liệu, vật liệu tồn đầu kỳ; Nguyên liệu, vật liệu nhập trong kỳ; Trị giá nguyên vật liệu thừa phát hiện khi kiểm kê; Kết chuyển trị giá thực tế nguyên, vật liệu tồn kho cuối kỳ (trường hợp kế toán hàng tồn kho theo pp kiểm kê định kỳ); Tổng giá trị nguyên, vật liệu tồn cuối kỳ.
Bên có: Trị giá nguyên vật liệu xuất trong kỳ; trị giá nguyên, vật liệu trả lại người bán hoặc được giảm giá; trị giá thiếu hụt phát hiện khi kiểm kê; kết chuyển trị giá thực tế nguyên, vật liệu tồn kho đầu kỳ (theo pp kiểm kê định kỳ).
Tài khoản 151: Phản ánh giá trị hàng hóa vật tư mua ngoài còn đang trên đường, vân chuyển, ở bến cảng, hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nhận nhập kho.
Bên nợ: Trị giá hàng mua trên đường đầu kỳ; trị giá hàng mua trên đường phát sinh tăng; kết chuyển trị giá thực tế của hàng hóa, vật tư mua đang đi trên đường cuối kỳ. (trường hơp hạch toán theo pp kiểm kê định kỳ); Trị giá hàng mua trên đường cuối kỳ.
Bên có: Trị giá hàng mua đi trên đường đã về nhập kho; Kết chuyển trị giá thực tế của hàng hóa, vật tư mua đang đi trên đường đầu kỳ. (Hạch toán theo pp kiểm kê định kỳ).
Tài khoản 611 (mua hàng): Dùng để phản ánh trị giá nguyên, vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa mua vào trong kỳ.
Không có số du cuối kỳ và có 2 tài khoản cấp 2:
-    Tài khoản 6111: Mua nguyên, vật liệu.
-    Tài khoản 6112: Mua hàng hóa.
A.    Nguyên tắc hạch toán
* Kế toán nhập, xuất, tồn kho nguyên, vật liệu phải được thực hiện theo nguyên tắc giá gốc.
- Giá gốc nguyên liệu, vật liệu mua ngoài, bao gồm: Giá mua ghi trên hóa đơn, thuế nhập khẩu phải nộp, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu phải nộp (nếu có), chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân loại, …; tất cả các chi phí từ nơi mua về đến kho của doanh nghiệp.
- Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu tự chế biến bao gồm giá thực tế của nguyên liệu xuất chế biên và chi phí chế biến.
- Đối với nguyên liệu, vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Giá gốc bao gồm giá thực tế của nguyên liệu vật liệu xuất thuê ngoài gia công chế biến, chi phí vận chuyển vật liệu đến nơi chế biến và từ nơi chế biến về đơn vị, tiền thuê ngoài gia công chế biến.
- Đối với nguyên liệu nhận góp vốn liên doanh, cổ phần: Giá gốc là giá trị được các bên tham gia góp vốn liên doanh thống nhất đánh giá chấp thuận.
* Trị giá nguyên vật liệu tồn kho được thực hiện một trong bốn phương pháp sau:
- Phương pháp nhập trước, xuất trước;
- Phương pháp nhập sau, xuất trước;
- Phương pháp giá đích danh;
- Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập hoặc cuối kỳ;
Doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá nào thì phải đảm bảo tính nhất quán trong cả niên độ kế toán.
IV. KẾ TOÁN CÔNG CỤ DỤNG CỤ
* Công cụ, dụng cụ là những tư liệu lao động không đủ các tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối với tài sản cố định.
* Tài khoản sử dụng: Tài khoản 153 dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của các loại công cụ, dụng cụ trong kho của doanh nghiệp.
Bên nợ: Trị giá công cụ, dụng cụ tồn đầu kỳ; Trị giá công cụ, dụng cụ nhập kho; Trị giá công cụ, dụng cụ cho thuê nhập lại kho; Trị giá công cụ, dụng cụ thừa phát hiện khi kiểm kê; Kết chuyển trị giá thực tế công cụ, dụng cụ tồn kho cuối kỳ (Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ); Trị giá công cụ, dụng cụ tồn cuối kỳ.
Bên có: Trị giá thực tế công cụ, dụng cụ xuất kho; Trị giá công cụ, dụng cụ trả lại người bán hoặc được giảm giá;  Trị giá công cụ, dụng cụ thiếu hụt phát hiện khi kiểm kê; Kết chuyển trị giá thực tế công cụ, dụng cụ tồn kho đầu kỳ (Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
* Tài khoản 153 có 3 tài khoản cấp hai:
- Tài khoản 1531: Công cụ, dụng cụ.
- Tài khoản 1532: Bao bì luân chuyển.
- Tài khoản 1533: Đồ dùng cho thuê.
A. Nguyên tắc hạch toán
* Kế toán nhập xuất công cụ, dụng cụ được phản ánh theo giá gốc.
* Công cụ, dụng cụ phải được theo dõi đồng thời trên sổ kế  toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết.
* Đối với công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ khi xuất dùng cho sản xuất, kinh doanh phải ghi nhận toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất, kinh doanh.
* Trường hợp xuất dùng công cụ, dụng cụ một lần có giá trị lớn và thời gian sử dụng vào sản xuất, kinh doanh dưới một năm thì giá trị công cụ, dụng cụ xuất dùng được ghi vào  “Chi phí trả trước ngắn hạn” và phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh cho các kỳ kế toán tháng hoặc quý trong năm.
* Trường hợp công cụ, dụng cụ xuất dùng cho sản xuất, kinh doanh có giá trị lớn, được sử dụng cho nhiều kỳ sản xuất, kinh doanh thì phải phân bổ dần trị giá của chúng vào chi phí sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ khác nhau.




Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn